-  Đặt Báo Quảng Trị làm trang chủ

 
 
 
    Giới thiệu    Đặt báo    Nhạc Quảng Trị    Góp ý gửi tòa soạn   Tìm Kiếm      Đăng Ký -   Đăng Nhập  
 
 
..::Trang nhất » Diễn đàn cuối tuần » Chi tiết ::..
ACFTA, thời cơ và thách thức

Ngày cập nhật: 12/02/2010 11:42:04 SA

(QT) - Ngày 4/11/2002, Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện giữa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (dưới đây gọi tắt là Hiệp định khung) đã được lãnh đạo các nước ASEAN và Trung Quốc ký kết tại Phnom Penh, Campuchia tạo nền tảng pháp lý quan trọng để tăng cường hợp tác kinh tế nhiều mặt giữa ASEAN và Trung Quốc, trong đó quan trọng nhất là việc thiết lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc, gọi tắt ACFTA. 

Hiệp định khung có mục tiêu: Củng cố và tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa các quốc gia tham gia ký kết; Tự do hóa từng bước và khuyến khích thương mại hàng hóa và dịch vụ cũng như tạo ra một cơ chế đầu tư minh bạch, tự do và thuận lợi; Mở rộng các lĩnh vực mới và phát triển các biện pháp phù hợp để thúc đẩy hợp tác kinh tế gần gũi hơn giữa các bên; Tạo điều kiện thuận lợi cho sự hội nhập kinh tế có hiệu quả hơn của các nước thành viên mới của ASEAN và thu hẹp khoảng cách phát triển kinh tế giữa các bên. 

     
 

Theo Bộ Công Thương, trong ba hiệp định đã được ký kết, cơ hội rõ nhất đối với Việt Nam là Hiệp định thương mại hàng hóa. Do hạn chế về năng lực xuất khẩu dịch vụ và đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam còn thấp nên ta chưa tranh thủ được nhiều lợi ích từ các hiêp định dịch vụ và đầu tư. Theo thỏa thuận giữa lãnh đạo các nước tham gia Hiệp định khu vực tự do ASEAN – Trung Quốc thông qua các ứng xử linh hoạt và khác biệt nhằm hỗ trợ các nước thành viên mới trong đó có Việt Nam, từ năm 2004, hàng nông thủy sản xuất khẩu của nước ta bắt đầu được hưởng lợi từ chương trình thu hoạch sớm (EHP). 

 

 

   
Trên cơ sở Hiệp định khung, các nước ASEAN và Trung Quốc đã đàm phán và ký kết Hiệp định về Thương mại hàng hóa vào năm 2005, Hiệp định về thương mại dịch vụ (2006) và Hiệp định về đầu tư (2009), đây chính là 3 trụ cột của ACFTA. Lộ trình cắt giảm thuế quan cụ thể để thành lập khu vực thương mại tự do đối với hàng hóa bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2010. Với sự đối xử đặc biệt và khác biệt cũng như sự linh hoạt dành cho các nước thành viên mới của ASEAN, Hiệp ước ACFTA đã thỏa thuận lộ trình mở cửa chậm hơn 5 năm (2015) cho các nước bao gồm Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam. 

Ngày 7/1/2010, tại thành phố Nam Ninh, thủ phủ tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc đã diễn ra lễ kỷ niệm sự kiện Khu vực tự do thương mại ASEAN – Trung Quốc được thiết lập và bắt đầu có hiệu lực. Với gần 2 tỷ người tiêu dùng, ACFTA là thị trường có quy mô lớn nhất toàn cầu, đây cũng là thị trường được coi là năng động nhất với những tiềm năng to lớn để hướng tới hình thành một khu vực quan trọng của kinh tế thế giới.
 
Liên tục từ năm 1992 đến nay, ASEAN là bạn hàng lớn thứ năm của Trung Quốc, kim ngạch thương mại hai bên đạt tốc độ tăng trưởng trung bình trên 20% mỗi năm. Riêng Việt Nam, cả ASEAN và Trung Quốc hiện đang là đối tác thương mại hàng đầu. Tổng giá trị thương mại với các nước này chiếm tới 35% tổng kim ngạch thương mại của nước ta với thế giới. 

Theo Bộ Công Thương, trong ba hiệp định đã được ký kết, cơ hội rõ nhất đối với Việt Nam là Hiệp định thương mại hàng hóa. Do hạn chế về năng lực xuất khẩu dịch vụ và đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam còn thấp nên ta chưa tranh thủ được nhiều lợi ích từ các hiêp định dịch vụ và đầu tư. Theo thỏa thuận giữa lãnh đạo các nước tham gia Hiệp định khu vực tự do ASEAN – Trung Quốc thông qua các ứng xử linh hoạt và khác biệt nhằm hỗ trợ các nước thành viên mới trong đó có Việt Nam, từ năm 2004, hàng nông thủy sản xuất khẩu của nước ta bắt đầu được hưởng lợi từ chương trình thu hoạch sớm (EHP). 

Theo đó các nhóm hàng này sẽ từng bước được cắt giảm thuế và đến năm 2006, toàn bộ các mặt hàng này được hưởng thuế suất bằng 0% khi xuất sang Trung Quốc và ASEAN. Có thể nói, với một nước sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn thì nông thủy sản là các mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của nước ta, và chiếm khoảng 28% tổng kim ngạch xuất khẩu, việc loại bỏ thuế quan bao gồm cả các dòng thuế trên 15% sẽ cải thiện đáng kể sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường Trung Quốc. Có thể nói đây là cơ hội rất quan trọng để các doanh nghiệp đẩy mạnh việc xuất khẩu hàng hóa qua thị trường đông dân vào bậc nhất thế giới này. 

Vấn đề là các doanh nghiệp đã nắm bắt thông tin ra sao khi ACFTA có hiệu lực? Theo giám đốc một doanh nghiệp thương mại có mối quan hệ làm ăn khá lâu năm với Trung Quốc, lâu nay chúng ta chỉ tập trung buôn bán với Trung Quốc theo con đường biên mậu, xuất khẩu phổ biến là tiểu ngạch, vì vậy chưa tranh thủ được những ưu đãi thuế quan từ ACFTA. Mặt khác với cách làm ăn “nhỏ lẻ” này, hàng xuất khẩu của chúng ta (đặc biệt là nông sản tươi sống không có các thiết bị bảo ôn đạt tiêu chuẩn) thường bị các đối tác ép giá. 

Cũng theo vị giám đốc này, không đợi ACFTA có hiệu lực toàn diện với Việt Nam (vào năm 2015), nhiều năm nay, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Trung Quốc tận dụng khá tốt cơ hội từ Hiệp định tự do thương mại ACFTA. Trước hết họ mang hàng Trung Quốc vào bán ở thị trường Việt Nam bằng nhiều con đường từ chính ngạch, tiểu ngạch đến hàng lậu, sau đó gom tiền về rồi mua hàng nông sản của Việt Nam với số lượng lớn xuất sang Trung Quốc để hưởng những ưu đãi thuế quan từ ACFTA. 

Với “tiểu xảo” này, nếu các doanh nghiệp trong nước không tỉnh táo hoặc vì lợi ích cục bộ của doanh nghiệp mình mà bỏ mặc thị trường xuất khẩu hàng trong nước cho các doanh nghiệp Trung Quốc mặc sức thao túng thì không những không cân bằng được cán cân xuất – nhập mà còn bị thiệt đơn thiệt kép (bán hàng giá rẻ, không tận dụng được ưu đãi thuế xuất). 

Theo báo cáo mới nhất của Bộ Công Thương, từ năm 2004 đến nay, Trung Quốc trở thành nước chiếm vị trí số 1 trong các quốc gia xuất khẩu vào Việt Nam, chiếm tới 19,3% thị phần nhập khẩu của Việt Nam, trong khi Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chỉ chiếm 7,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Buôn bán với Trung Quốc chiếm khoảng 14,07% tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam nhưng Việt Nam chỉ chiếm 0,78% tổng kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc, đó là một sự mất cân đối lớn. 

Còn theo Tổng cục Thống kê, năm 2009, Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc tới 16,1 tỷ USD, tăng 2,8% so với năm 2008. Rõ ràng việc cùng với việc thực thi ACFTA vấn đề mất cân đối trong cán cân xuất - nhập giữa Việt Nam với Trung Quốc ngày càng lớn. Để hạn chế vấn đề này và tận dụng cơ hội từ chính sách ưu đãi thuế quan, ngoài những điều chỉnh ở tầm vĩ mô, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước cần phải được cung cấp đầy đủ thông tin về ACFTA, được hướng dẫn và đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được cấp giấy chứng nhận xuất xứ ACFTA như có nguồn gốc từ Việt Nam, kê khai nơi nuôi trồng, các điều kiện kiểm dịch, sản xuất theo C/O mẫu E... để dễ dàng xuất khẩu. 

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần phải thay đổi phương thức buôn bán nhỏ lẻ chuyển qua con đường chính ngạch để được hưởng những ưu đãi từ ACFTA. Thị trường Trung Quốc được đánh giá là rất rộng lớn và không khó tính, nhưng cách làm ăn của các doanh nghiệp nước này được xem là thiếu chuyên nghiệp, vì vậy để đề phòng rủi ro các doanh nghiệp của chúng ta cần dựa vào những cam kết thương mại, những định chế tài chính đã có hiệu lực để xây dựng các mối quan hệ mà ACFTA là một trong những điều kiện thuận lợi. 

Thời gian để thực thi đầy đủ các cam kết theo ACFTA đối với Việt Nam không còn nhiều. Chúng ta đang có lợi thế trong việc xuất khẩu hàng nông sản sang Trung Quốc theo chương trình thu hoạch sớm. Trong khi đó 5 năm nữa doanh nghiệp Trung Quốc cũng được hưởng đầy đủ những ưu đãi thuế quan theo cam kết của Hiệp định tự do thương mại ASEAN – Trung Quốc. 

Tuy nhiên, điều dễ dàng nhìn thấy là các doanh nghiệp chúng ta vẫn còn rất thờ ơ với những cơ chế, chính sách chỉ thật sự có được trong thời kỳ hội nhập. Đó là chưa nói vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa tận dụng được những cơ hội từ hiệp định thương mại tự do này. Đây là một khiếm khuyết lớn không chỉ từ các doanh nghiệp mà còn từ các cơ quan quản lý nhà nước về thương mại trong việc thiếu tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn các nội dung quan trọng mà ACFTA đề cập. 

Do không nắm bắt thông tin nên nhiều doanh nghiệp vẫn chưa chuẩn bị điều kiện hội nhập khi những cam kết và những ưu đãi thuế quan từ ACFTA đã có hiệu lực. Nếu chỉ nhìn ACFTA với nhiều cơ hội là điều hết sức sai lầm, nguy cơ nhập siêu gia tăng và sự tấn công ồ ạt của hàng hóa Trung Quốc vào Việt Nam là khó tránh khỏi, nhưng vẫn có cách để giảm bớt áp lực này đó là nhà nước và các địa phương cần tạo điều kiện và hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, đồng thời có chính sách khuyến khích xuất khẩu để cân bằng cán cân thương mại đang nghiêng về phía nhập khẩu. 

                               Hoàng Đức

Lần xem: 631  Gửi phản hồi  Quay lại!

CÁC TIN KHÁC
  Nâng cao hiệu quả phản biện xã hội của MTTQVN trong điều kiện mới
  Tích cực phòng chống dịch sốt xuất huyết
  Xây dựng nhà ở hộ nghèo, cần một giải pháp đồng bộ hơn
  Nhân lên những tấm lòng vì nạn nhân chất độc da cam
  Thiếu lao động, những bức xúc trong quá trình hội nhập
  Sau hạn hán cần chủ động đối phó với lụt bão
  Ðề án 1816 góp phần bảo đảm công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, giữ vững an sinh xã hội
  Khơi nguồn văn hóa để phát triển và hội nhập về du lịch
  Nâng cao tinh thần, thái độ phục vụ người bệnh

 

Đóng  Bài dự thi

  
Đóng  Tin, bài mới cập nhật
  
Đóng  Lượt truy cập
  
Đóng  Thăm dò dư luận
Nội dung Website Báo Quảng Trị?



Gửi Điều Tra  Xem Kết Quả
  
 
 

BÁO QUẢNG TRỊ ĐIỆN TỬ
Giấy phép xuất bản số 46/GP-TTĐT ngày 11/08/2008 của Cục Báo chí - Bộ TT và TT
Tổng biên tập: Nguyễn Hà Phương
Tòa soạn và Trị sự:
26 Trần Hưng Đạo, Thành phố Đông Hà - ĐT: (053) 852528 - 853418 - 851615 - Fax: (053) 851615 - 853418
Website: www.baoquangtri.vn  Email: baoqtri@dng.vnn.vn
Thiết kế bởi Trung Tâm CNTT & TT Quảng Trị