Mật ngôn như sóng


Ngày cập nhật: 08/09/2019 19:41:53

(QT) - Nếu khoảng cách các tập thơ trước chừng bốn năm thì từ "Người câu bóng mình" (năm 2011) đến "Mật ngôn của biển" (2019) là gấp đôi, tức  tám năm với 101 bài thơ. Có lẽ nhà thơ Võ Văn Luyến đã muốn có thêm độ lắng trước khi sinh thành một sinh linh thơ mới.

 

 Trước hết, tập thơ này cũng như “Người câu bóng mình” vẫn có sự phân thân sáng tác, có điều tập này rõ hơn, quyết liệt hơn trong tìm tòi, thể nghiệm.

 

Dễ thấy những bài thơ viết về quê nhà hay người thân ruột thịt nhìn chung vẫn nghiêng về bút pháp truyền thống, dù viết bằng thể thơ tự do hay lục bát, hoặc cộng hưởng cả hai với những hình tượng ảnh hưởng văn hóa dân gian. Về phía người sáng tác có lẽ đây là lựa chọn khi muốn giải bày những tình cảm thân thuộc bằng thi tứ, thi ảnh và ngôn từ dung dị, tránh “bóng chữ” nhiều lúc cầu kì nhưng mặt khác cũng nhận thấy rằng chính đề tài, cảm xúc đã “cầm tay” người viết. Những trường hợp này thì chính vô thức, tiềm thức mạnh hơn ý thức khi lao động thi ca. Nói rộng ra “cảm thức đồng quê” chọn lựa chất liệu dễ cảm, dễ hiểu, như “Con về bão giông”, “Vĩ nhân của tôi”, “Thức cùng đêm chờ sáng tiễn con”, “Thơ tặng bạn xa quê”, “Nhớ rét ngọt”, “Đêm Sa Pa”, “Chiều A Dơi” và ngay cả những bài có nét mới trong hình thức thể hiện như “Chiêm cảm”, “Anh từ muôn thuở sinh ra”, “Giấc mơ cánh đồng gió và lửa”... cũng không thoát li ra ngoài quỹ đạo truyền thống. Đây có thể hiểu là hình thức mang tính nội dung, hay nói khác đi chính quan niệm và cách viết đã tương tác lẫn nhau.

 

Lối viết truyền thống nếu cảm xúc đủ độ và lao động nghiêm túc thì vẫn cho ra những tác phẩm tử tế trong dáng vẻ “khăn đen, áo dài”, mượn mã nghệ thuật dân gian dễ khơi gợi tình đồng điệu. Đương nhiên lối viết này khác hẳn “nôm na mách qué” dù đôi khi nhác trông có vẻ na ná giống nhau. ...Đêm nằm mơ Mẹ gánh con đi dưới trời pháo sáng Xót cây lúa năm mất mùa đại hạn Chân quấn rạ khô vấp ngã mấy lần (Con về bão giông) Người lưng trần lấy nắng mưa làm áo Lấy nồm nam quạt mát tháng năm Lấy nhân nghĩa ghìm cương con tạo Lấy nghìn xưa truyền lửa chim bằng. (Vĩ nhân của tôi) Hay có khi viết về phố Huế nhưng lại bằng cảm thức hoài niệm như một khúc nhạc đồng quê êm ái: Tưởng ngọn gió trần ai ngã lòng mỏi mệt lại hồi xuân trong mắt biếc câu cười lại không thể để chiều lên tóc trắng bay giữa nhớ quên lững thững tơ trời (Về xưa)

 

Nhưng song hành với truyền thống, ở một cung đường thi ca khác, nhà thơ Võ Văn Luyến đã tiếp tục với những tìm tòi, thể nghiệm khá thành công của mình với những mức độ khác nhau cho thấy ảnh hưởng xa gần của tân hình thức và hậu hiện đại. Có thể tạm gọi tên đó là “cảm thức phố phường”. Như những bài thơ: “Tóc mai xuống phố”, “Ngày cũ phố cũ hồn cũ”, “Hà Nội”, “Mặc khải đêm”, “Trăng và phế tích”, “Mật ngôn”, “Còn một doha khác”... Có khi là những tìm tòi khả giải dù đã xuất hiện một số tổ hợp ngữ nghĩa xa nhau hoặc tương phản: Gió hát màu mạ non Cánh đồng cong tầm lá vẫy Mắt ướt loang sương Chân mày trầm ngãi Em xa (Tóc mai xuống phố) không như mọi người những cố gắng cũ rích vào tôi sẽ vô tăm tích như vào chỗ trống không vùng trời tôi yêu ít lắm những đám đông... ...biết làm làm sao tôi làm ra tôi làm ra một tình yêu bỏ quên bên trời những buồn vui xưa cũ. (Mặc khải đêm) Nhưng có khi người viết thích vượt thoát những trật tự ngôn ngữ thông thường, bỏ qua những logic cảm xúc và suy luận thông thường một cách cố tình, như thể bẻ vụn con chữ rồi sắp xếp lại, làm biến dạng ngôn từ, như muốn sáng tạo một một bất khả giải trong thơ: kí tự sấp ngửa cớ như đang nhai vụng dại hắn lại quay về tự chứng một thương đau cũ nõn tím ứa ra từ nơi bị chặt ngọn... (Phía bên kia con sóng)

 

Lại cũng có khi các con chữ tưởng chừng vừa kết dính nhau, lại vừa va chạm, xô đẩy nhau, tạo nên nhiều kết hợp khác nhau như dàn hợp xướng đa thanh, buộc người nghe phải chú tâm mới cảm được nhưng không chắc đã hiểu hết: “phố nhớ phố nhớ áo trắng môi ngoan ném hờn dỗi lên trăng khuyết một vòng tay lạc gió lời thề/nhớ rừng thẳm núi cao tuổi xanh mây trắng vút đường bay ý nghĩ chim ưng sải cánh/ nhớ rét ngọt khói tỏa khuya khoắt thèm một hơi ấm một chiêm bao đi về thênh thang vụng dại/nhớ sao trời lúng liếng xô nghiêng đồi chè chớm nụ đẫm sương đập nhịp song đôi đá lăn lóc đá chân quên đường về...” (Ngày cũ phố cũ hồn cũ).

 

Mặc dù có một vài thể nghiệm chưa chín nhưng tựu trung “Mật ngôn của biển” là một tập thơ chững chạc, nhiều bài chất lượng cả về bút pháp truyền thống lẫn nỗ lực cách tân. Một số bài thơ được nhiều người đọc hoan hỉ tiếp nhận. Một ưu điểm nữa cũng đáng trân trọng là nhà thơ đã tránh lặp lại chính mình trong cách thể hiện, một trở ngại không nhỏ mà không phải tác giả chuyên nghiệp nào và bao giờ cũng có thể vượt qua, nhất là khi tuổi nghề đã lớn. Mặt khác cần ghi nhận thái độ lao động nghiêm túc, ngay cả những thể nghiệm cũng không quá đà, bí hiểm tắc tị, đánh đố người đọc, thiếu tôn trọng công chúng văn chương.

 

Bởi vậy, tập thơ này có nhiều tiếng sóng, tạo được dư âm trong lòng độc giả. Nhất là với những ai có duyên tri ngộ đường thơ Võ Văn Luyến.

 

Phạm Xuân Dũng

 

   (Nhân đọc tập thơ "Mật ngôn của biển" của Võ Văn Luyến, NXB Hội Nhà văn, 2019)

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC



Lượt truy cập



Trực tuyến





Copyright 2019 by BÁO QUẢNG TRỊ